Hiển thị các bài đăng có nhãn Công nghệ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Công nghệ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2007

Người làm ERP nói về ERP























(VnMedia) - Hệ thống thông tin quản lý doanh nghiệp hay ERP
(Enterprise Resource Planning) đang được hiểu theo nhiều nghĩa khác
nhau. Một số doanh nghiệp (DN) nói đang ứng dụng ERP, nhưng thực chất
chỉ triển khai một hai module nào đó. Tại Việt Nam, các thông tin về
ERP cũng chưa được thông tin đầy đủ và liên tục đến các DN. Một số DN
đang ứng dụng ERP cũng rất "ngại" nói về mình.

Theo
các chuyên gia về ERP, một hệ thống đạt tầm ERP cần phải: Được thiết kế
theo từng phần nghiệp vụ (moduler); Có tính tích hợp chặt chẽ; Có khả
năng phân tích quản trị; Tính mở. Hệ thống ERP còn có khả năng sửa
chữa, khai thác thông tin. Do đó, cùng với quy trình vận hành, ERP có
tính dẫn hướng (driver). Mặt tích cực này cho phép DN học tập các quy
trình quản lý DN trong chương trình, từ đó thiết lập quy trình quản lý
của mình và hoạch định các quy trình dự kiến trong tương lai.

Các
chuyên gia cũng đưa ra 5 lời khuyên cho DN ứng dụng ERP. Theo đó, nếu
DN quản lý không chặt việc tuyển dụng, mua vật tư sẽ thất thoát chi phí
rất nhiều. Cho nên, DN nên bắt đầu bằng với những module cơ bản và cần
thiết nhất trong ERP. Đó là module tài chính và cung tiêu. Sau đó, mới
ứng dụng các module nâng cao như sản xuất, nhân sự, tiền lương. Sau khi
đã có ERP, DN mới nên tiếp tục triển khai SCM, CRM và thậm chí SEM. Ứng
dụng ERP ngày nay không phụ thuộc vào qui mô DN mà vào nhu cầu quản lý
của DN đó. DN nên chọn 1 nhà cung cấp (NCC) hay chỉ nên tích hợp tối đa
3 module của các NCC giải pháp khác nhau. Vì chi phí tích hợp chiếm tỷ
trọng 40% trong tổng giá trị gói ERP và giải pháp của NCC khác nhau
không phải lúc nào cũng có thể "bắt tay" tích hợp được với nhau. DN nên
thực hiện ISO trước khi ứng dụng ERP.

Theo
ông Phan Quốc Khánh, giám đốc Fast Software: "DN có hiểu ERP dễ dàng
mới "đỡ sợ" là không làm nổi ERP và dám tiếp tục triển khai. Khi tiếp
cận với DN, Fast Software thường giải thích rằng ERP chỉ là tự động hóa
mọi qui trình nghiệp vụ trong DN, tổ chức. Chẳng hạn, ở một công ty đã
có ISO nhưng chưa từng ứng dụng ERP bao giờ, tôi giải thích: "ERP là
ISO được đưa vào chương trình máy tính". Người nghe thấy vậy đều thở
phào nhẹ nhõm vì họ đã quá quen thuộc với ISO. Tôi nghĩ rằng những khái
niệm modular,real-time, single database sẽ hết sức rối rắm đối với DN."

Ông
Trần Đào Anh, giám đốc Diginet cho biết: "Diginet quan niệm ERP là một
công cụ tự động hóa toàn bộ quá trình kinh doanh từ đầu vào đến đầu ra.
ERP chủ yếu giải quyết những vấn đề nguồn lực nội tại của DN bao gồm
tài chính, nguồn nhân lực, máy móc, nguyên vật liệu, qui trình kỹ
thuật, qui trình sản xuất,... Song ERP đơn thuần chưa đủ mà cần có
những module khác như CRM (Customer Relationship Management - Quản trị
quan hệ khách hàng) hỗ trợ phần quan hệ giữa DN với khách hàng; SCM
(Supply Chain Management - Quản trị dây chuyền cung ứng) lo cho phần
quan hệ giữa DN và các nhà cung ứng. Trong đó, ERP giúp "tề gia" bên
trong DN, CRM là mặt tiền để quan hệ với khách hàng, còn SCM quản lý
công tác mua nguyên vật liệu cho DN."

Cũng
theo ông Đào Anh, hiện có rất nhiều hệ ERP có tính năng lấn sang tính
năng của CRM hay SCM. Diginet gọi đây là hiện tượng chồng lấn chức
năng. Bản thân Diginet đang đi theo hướng phát triển "vùng chồng lấn",
mở rộng khái niệm ERP có luôn CRM, SCM.

Theo công ty AZ, lộ trình ứng dụng CNTT trong DN gồm 5 giai đoạn:

Thứ nhất, đầu tư cơ sở hạ tầng:
DN trang bị máy tính, thiết lập mạng cục bộ LAN, hay các mạng diện rộng
WAN. Lúc này DN có thể thiết lập kết nối Internet, các môi trường
truyền thông giữa các văn phòng, giữa công ty với các đối tác... Đây là
giai đoạn xây dựng "phần xác" cho ứng dụng CNTT.

Thứ hai, giai đoạn sơ khai:
Được hiểu là dùng máy tính cho các ứng dụng đơn giản. Chẳng hạn, ứng
dụng soạn thảo văn bản, bảng tính Excel, lưu trữ văn bản, thiết lập hệ
thống Email, lập lịch công tác hoặc ở mức cao hơn là thiết lập các trao
đổi đối thoại trên mạng (Forum). Giai đoạn này tác động trực tiếp đến
cá nhân từng thành viên trong công ty.

Thứ ba, mức tác nghiệp:
Bắt đầu đưa các chương trình tài chính kế toán, quản lý bán hàng, quản
lý nhân sự-tiền lương... vào sử dụng trong từng bộ phận của đơn vị.
Giai đoạn này tác động trực tiếp đến phòng ban khai thác ứng dụng. Đặc
điểm lớn nhất của giai đoạn này là các ứng dụng mang tính rời rạc,
hướng tới tác nghiệp và thống kê.

Thứ 4, ứng dụng CNTT ở mức chiến lược:
Lúc này ngoài điều hành tác nghiệp, CNTT không còn là ứng dụng đơn
thuần mà là giải pháp theo mô hình quản trị để giúp DN thay đổi chất
lượng quản lý nội tại, nâng cao năng lực điều hành, tăng hiệu quả và
năng lực cạnh tranh của mình. Đây là cách áp dụng CNTT của DN các nước
tiên tiến. Các mô hình quản trị được áp dụng ở đây là ERP (Enterprise
Resouce Planning - Hoạch định khai thác nguồn tài nguyên DN), SCM
(Supply Chain Management - Quản trị cung ứng theo chuỗi), CRM (Customer
Relationship Management - Quản trị mối quan hệ khách hàng). Đặc điểm
lớn nhất của giai đoạn này là CNTT tác động đến toàn bộ DN. Việc điều
hành được thực hiện trên hệ thống với số liệu trực tuyến và hướng tới
phân tích quản trị.

Thứ năm, ứng dụng thương mại điện tử:
Giai đoạn này, DN đã dùng công nghệ Internet để hình thành các quan hệ
thương mại điện tử như B2B, B2C và B2G. TMĐT ở đây không đơn thuần là
thiết lập Website, giới thiệu sản phẩm, nhận đơn đặt hàng, chăm sóc
khách hàng... qua mạng mà là kế thừa phát huy sức mạnh trên nền tảng dữ
liệu và các quy trình nghiệp vụ đã hình thành trong DN. Điều này minh
chứng cho vai trò cốt lõi, không thể thiếu của ERP trong chiến lược dài
hạn, tối thiểu là 10 năm.

TS.
Bùi Quang Ngọc – Phó TGĐ FPT kiêm Giám đốc FPT-ERP nhận định: "Trong
những năm gần đây, CNTT đã đi sâu vào các lĩnh vực của cuộc sống.
Internet đã mang đến cho chúng ta sự tiếp cận dễ dàng đến kho tri thức
khổng lồ của nhân loại, cùng khả năng kết nối mọi người mọi lúc mọi nơi
qua ứng dụng thư tín điện tử, các giao dịch thương mại điện tử, qua
việc học tập từ xa. CNTT cũng đã đến với DN qua giải pháp ERP, một giải
pháp tin học hóa toàn diện hoạt động kinh doanh, sản xuất và quản trị
doanh nghiệp."

Cũng
theo ông Ngọc, nhận thức ERP không chỉ đơn thuần trên phương diện quan
niệm về tin học hóa DN, mà còn về những lợi ích mà ERP mang lại cho DN,
những thách thức mà DN sẽ phải đối mặt, về phương pháp luận triển khai,
về những kinh nghiệm mà các DN khác đã tích lũy được trong quá trình
triển khai, vận hành hệ thống ERP. Những kinh nghiệm này không chỉ giới
hạn ở Việt Nam mà còn của các quốc gia khác.



A.T - Y.K-L.Q

ERP - Băn khoăn của người “chưa biết gì”




Thuật
ngữ “ERP” đã và đang thâm nhập vào đời sống doanh nghiệp (DN) nhưng vẫn
còn rất nhiều người hiểu mơ hồ về nó. Từ thực tiễn của một người làm tư
vấn về CNTT, tác giả đã ghi và giải đáp một số điểm băn khoăn mà khách
hàng thường đặt ra.


ERP là gì?

DN
có thể đã xem thuyết trình một số giải pháp ERP trong và ngoài nước,
nhưng phần lớn thời gian ít ỏi này được công ty PM sử dụng để giới
thiệu về những “thế mạnh” của giải pháp mà họ sẽ cung cấp. DN thậm chí
còn chưa hiểu được đúng “thế nào là ERP” nên phần lớn không hiểu được
hết những gì mà nhà cung cấp muốn thuyết trình. Vậy ERP là gì? Tại sao
ERP lại có ý nghĩa đối với DN tới mức DN phải bỏ ra một khoản tiền lớn
để mua ERP?

Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm ERP, ở đây tôi sẽ nêu ra theo cách đơn giản nhất để bạn có thể hình dung về ERP.











Nguồn: illustrations.fr

ERP là phần mềm (PM) trên máy tính tự động hoá các tác nghiệp của đội
ngũ nhân viên của DN nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động và hiệu
quả quản lý toàn diện của DN. Nói cách khác, ERP là PM phục vụ tin học
hóa tổng thể doanh nghiệp. Đây chỉ là một cách nhìn “dễ hiểu” về khái
niệm ERP. Trên thực tế, khái niệm ERP theo chuẩn quốc tế giới hạn trong
phạm vi hoạch định nguồn lực, các nguồn lực bao gồm nhân lực (con
người), vật lực (tài sản, thiết bị...) và tài lực (tài chính). Khối
lượng công việc trong hoạch định và sử dụng các nguồn lực của DN chiếm
phần lớn trong toàn bộ hoạt động của DN nên ERP là hệ thống PM rất lớn.
Rất nhiều các giải pháp ERP chỉ thực hiện các chức năng theo đúng phạm
vi này. Tuy nhiên trên thực tế, khái niệm ERP đã được mở rộng rất nhiều
trong nhiều giải pháp ERP ngoại và nội. Ví dụ module CRM (quản lý mối
quan hệ khách hàng) cũng được tích hợp trong rất nhiều giải pháp ERP
quốc tế mặc dù CRM là khái niệm khác so với ERP. Xét về các quy trình
hoạt động của DN thì CRM quản lý khâu đầu tiên trong quy trình hoạt
động sản xuất kinh doanh chính của DN. Đó là công việc xây dựng hệ
thống khách hàng để tạo ra kết quả - các hợp đồng bán hàng và đây là
điểm xuất phát của tất cả các hoạt động tiếp theo của DN (mua hàng, sản
xuất...) nên nếu module này được tích hợp trong phạm vi hệ thống ERP
thì cũng là điều dễ hiểu. Thực tế thì nhu cầu quản lý của các DN “vô
cùng phong phú” và không chỉ giới hạn trong phạm vi hoạch định nguồn
lực. Ví dụ: Các công ty cổ phần có nhu cầu rất lớn về module PM “Quản
lý cổ phần và cổ đông” và module này có mối quan hệ chặt chẽ với module
kế toán nhưng không nằm trong khái niệm ERP. Nếu chúng ta hiểu ERP trên
khía cạnh PM quản lý “tổng thể” DN thì module này cũng nên được tích
hợp vào thành phần của hệ thống ERP.

Tóm
lại bạn chỉ nên hiểu khái niệm ERP một cách đơn giản nhất: ERP là PM
quản lý tổng thể DN, trong đó phần hoạch định nguồn lực là phần cơ bản.
Những gì quan trọng nhất trong hoạt động của DN đều được ERP quản lý,
và với mỗi ngành nghề kinh doanh, mỗi DN thì kiến trúc module hay chức
năng của hệ thống ERP có thể rất khác nhau.

Khác biệt cơ bản của ERP so với việc duy trì nhiều PM quản lý rời rạc

Điểm
phân biệt cơ bản nhất của việc ứng dụng ERP so với cách áp dụng nhiều
PM quản lý rời rạc khác (như PM kế toán, quản lý nhân sự, quản lý bảo
hành...) là tính tích hợp. ERP chỉ là một PM duy nhất và các module của
nó thực hiện các chức năng tương tự như các PM quản lý rời rạc, nhưng
các module này còn làm được nhiều hơn thế trong môi trường tích hợp.
Tính tích hợp của hệ thống ERP được gọi là tính “tổng thể hữu cơ” do
các module có mối quan hệ chặt chẽ với nhau như các bộ phận trong cơ
thể chúng ta. Vì sự khác biệt cơ bản này mà cách tiếp cận xây dựng hệ
thống ERP của các công ty PM và cách hiểu về PM ERP của chúng ta cũng
khác đi so với cách hiểu về PM thông thường. ERP là PM mô phỏng và quản
lý các hoạt động của DN theo quy trình.

Cách tổ chức nhân sự
theo phòng, ban của tất cả các DN hiện nay là cách tổ chức nhân sự theo
từng nhóm mà DN cho là tốt nhất để có thể dễ dàng tác nghiệp và quản
lý, phục vụ mục tiêu hoàn thành các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của
DN. Cách tổ chức theo phòng, ban này cũng rất khác nhau tùy từng DN, kể
cả với các DN hoạt động trong cùng ngành nghề. Khái niệm “quy trình”
trong hoạt động của DN được hiểu như sau: nếu cơ cấu tổ chức theo phòng
ban của DN được thể hiện theo chiều dọc thì các bước của quy trình lại
được tổ chức theo chiều ngang. Một quy trình hoạt động của DN bao gồm
nhiều bước, mỗi bước thực hiện một chức năng nào đó, mỗi bước có hệ
thống thông tin hoặc dữ liệu đầu vào và có kết quả là hệ thống thông
tin hoặc dữ liệu đầu ra. Thông tin đầu vào của bước này là thông tin
đầu ra của bước trước; thông tin đầu ra của bước này cũng là thông tin
đầu vào của bước kế tiếp... Một điều dễ nhận ra là một quy trình hoạt
động của DN, đặc biệt là các quy trình chính có thể liên quan đến nhiều
phòng, ban của DN, tức là để cho quy trình hoạt động đến các bước sau
cùng thì cần có sự tham gia về nhân sự từ nhiều phòng, ban. Các PM quản
lý rời rạc thường phục vụ cho hoạt động của một phòng, ban cụ thể (như
phòng kinh doanh, phòng kế toán, phòng nhân sự...) và như một “ốc đảo”
đối với các PM của phòng ban khác. Việc chuyển thông tin từ phòng, ban
này sang phòng, ban khác được thực hiện một cách thủ công (chuyển văn
bản, copy file...) với năng suất thấp và không có tính kiểm soát. Các
module của ERP cũng phục vụ cho các phòng, ban nhưng hơn thế, nó giải
quyết mối quan hệ giữa các phòng, ban khi mô phỏng tác nghiệp của đội
ngũ nhân viên theo quy trình. Thông tin được luân chuyển tự động giữa
các bước của quy trình và được kiểm soát chặt chẽ. Các báo cáo trên PM
ERP có thể lấy thông tin từ nhiều bước trong quy trình và thậm chí từ
nhiều quy trình khác nhau. Cách làm này tạo ra năng suất lao động và
hiệu quả quản lý thông tin rất cao cho DN.

Khi xây dựng hệ
thống quản lý chất lượng theo ISO, bạn sẽ thấy rõ nét nhất về các quy
trình. Với mỗi DN, các quy trình được phân thành các quy trình sản xuất
kinh doanh chính và các quy trình phụ trợ. Các quy trình sản xuất kinh
doanh chính là đối tượng đầu tiên được mô phỏng trên hệ thống ERP. Một
điều cần nói là rất nhiều DN VN, cho dù đã hoạt động nhiều năm, nhưng
vẫn không có các tài liệu về các quy trình hoạt động của mình và các
tài liệu này chỉ được xây dựng dưới sự giúp đỡ của các công ty tư vấn
xây dựng hệ thống quản lý chất lượng ISO.

Tại sao giá cả các hệ thống PM ERP cao?

Trào
lưu triển khai ERP của các DN có thể sẽ thực sự được bắt đầu trong năm
2007, khi VN đã chính thức gia nhập WTO. DN nào dũng cảm đi tiên phong
sẽ có lợi thế cạnh tranh so với đối thủ và dù có thành công hay không
thì đổi lại DN cũng sẽ có được kinh nghiệm cần thiết. điều cần suy nghĩ
là các DN chậm chân hơn rất có thể sẽ phải trả giá cho sự chậm trễ này.


Đối
với các công ty phần mềm, việc xây dựng hệ thống ERP khó hơn rất nhiều
so với các PM đơn lẻ. Giá trị lớn nhất và cũng là điều khó thực hiện
nhất đối với công ty PM là xây dựng được tính tích hợp trên phần mềm.
ERP vừa phục vụ cho tác nghiệp chi tiết của từng nhân viên, vừa giải
quyết mối quan hệ tổng thể của tất cả các phòng, ban và nhân viên trong
DN. Cơ sở dữ liệu của ERP sẽ rất lớn và từ đó đặt ra thêm nhiều khó
khăn cho các công ty PM (để giải quyết vấn đề lưu trữ và xử lý tốc độ
hoạt động của chương trình).

Một điểm khó nữa là để xây dựng
được PM ERP, các công ty PM không chỉ cần các kiến thức và kỹ năng
trong lĩnh vực tin học mà còn cần am hiểu về hoạt động của DN trong
nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Thêm nữa, một PM ERP tốt cũng chỉ
quyết định chưa đến 50% sự thành công của dự án triển khai ERP cho
doanh nghiệp. Yếu tố chủ quan của từng DN (như nhận thức và quyết tâm
của ban lãnh đạo DN, hệ thống quản lý, trình độ đội ngũ nhân viên...)
quyết định tới trên 50% sự thành bại của dự án. ERP là hệ thống PM có
phạm vi quản lý rộng trên toàn DN, do đó thời gian triển khai dự án có
thể kéo rất dài (thường là từ 6 tháng đến vài năm). Tất cả những yếu tố
trên đây đẩy chi phí của công ty PM lên rất cao để có thể hoàn thành
việc triển khai dự án cho DN. Do đó giá cả của các hệ thống ERP cao hơn
nhiều so với việc trang bị nhiều PM đơn lẻ cộng lại.

Băn khoăn của doanh nghiệp

Rất
nhiều câu hỏi thể hiện sự băn khoăn của các DN trước ngưỡng cửa “tin
học hoá quản lý DN”, mà cụ thể là có nên triển khai hệ thống ERP hay
không? Và nếu triển khai thì phải lựa chọn giải pháp như thế nào? Một
khi DN chưa hiểu được bản chất của hệ thống ERP, cũng như DN sẽ được gì
khi trang bị hệ thống ERP thì DN chưa thể quyết định được về việc triển
khai ERP. Rất nhiều DN chỉ mơ hồ “cần phải tin học hóa DN nay mai”,
hoặc trước trào lưu hội nhập và gia nhập WTO, DN rất sốt sắng nâng cấp
hệ thống quản lý bằng việc “mua PM ERP càng nhanh càng tốt!”. Nhưng ERP
thực sự là một hệ thống phức tạp, có nhiều khái niệm trừu tượng không
dễ gì có thể hiểu được nhanh và quyết định triển khai. Thực tế, các DN
VN hiện nay đang có nhu cầu về dịch vụ tư vấn nhiều hơn so với việc
triển khai ngay hệ thống ERP. Tuy nhiên, “cung” đang thấp hơn nhiều so
với “cầu” vì hiện không có nhiều công ty hoạt động chuyên nghiệp trong
lĩnh vực tư vấn này. Tuy vậy, DN có thể tham khảo tư vấn trực tiếp từ
chính các công ty cung cấp giải pháp ERP.

Một điều nữa làm cho
các DN rất băn khoăn là hiện nay ở VN chưa có nhiều DN triển khai thành
công ERP để các DN khác lấy làm “gương” và “noi theo”. Họ chỉ nghe rằng
ERP là cái gì đó “rất phức tạp” và có nhiều dự án triển khai ERP thất
bại hơn là thành công. Vì vậy tại thời điểm hiện nay, DN VN nào quyết
định tiến hành triển khai ERP sẽ là DN thực sự đi tiên phong và rất
“dũng cảm”. Điều này cũng đã xảy ra với PM kế toán trước đây. Và các DN
đi tiên phong trong việc áp dụng PM kế toán đều là các DN thành công.
Tất cả mọi thứ đều có giá của nó!

Nguyễn Văn Khương (Công ty EFFECT)




Thứ Tư, 5 tháng 12, 2007

Wimax - Đường ống thứ 3

















Dumb pipe - kết cục chờ đợi các công ty viễn thông


hình kinh doanh hiện tại của các công ty điện thoại và dịch vụ viễn
thông (Telco) hoàn toàn dựa trên việc cung cấp đường truyền (đường
truyền Internet, sóng điện thoại di động, vô tuyến…) để kết nối khách
hàng với nhau. Trong những năm gần đây, cạnh tranh khốc liệt giữa các
nhà khai thác đã khiến cho lợi nhuận tính theo đầu thuê bao giảm đi
đáng kể. Điều này đã buộc nhiều Telco loay hoay đi tìm các mô hình kinh
doanh mới. Các mẹo kinh doanh cũ như giảm giá, khuyến mại và bán kèm cả
gói để duy trì thế mạnh của công ty trong phân đoạn khách hàng của mình
không còn nhiều hiệu quả như thời kỳ đầu.


Cùng
lúc đó các Telco lại phải đường đầu đầu với những đối thủ cạnh tranh
mới bước vào lĩnh vực này như Apple, Google, Cisco và Nokia. Việc sử
dụng Internet theo xu thế tách rời việc cung cấp dịch vụ nội dung với
cung cấp đường truyền số liệu đang biến các telco trở thành “đường ống
vô tri” (dumb pipe)”. Theo lý thuyết, dumb pipe là đường ống thụ động –
dùng để kết nối hai đầu cuối với nhau, không phân biệt được nội dung
truyền bên trong đó là gì.

Trong vòng hơn 10 năm trở lại đây,
điện thoại, đặc biệt là thông tin di động đã đáp ứng rất tốt nhu cầu
kết nối và thông tin liên lạc của người tiêu dùng. Lợi nhuận của mô
hình kinh doanh này là vô cùng hấp dẫn. Nhưng tới giờ này, các telco
dường như vẫn khó dứt ra khỏi ánh hào quang cũ. Thoại và SMS vẫn là
nguồn doanh thu chủ yếu.


Trong
vòng 5 năm gần đây các telco chưa đưa ra được mô hình kinh doanh mới
nào mà có đủ độ tiện dụng và hấp dẫn được người tiêu dùng. Trong lúc
đó, điều mà nhà kinh doanh nào cũng thừa nhận là nhu cầu và thói quen
của người tiêu dùng đang thay đổi, và sự thay đổi đó càng nhanh hơn với
sự hỗ trợ của Internet. Không chỉ còn là nhu cầu liên lạc, giao tiếp
thông thường, nhu cầu giờ đây là kết nối ở mọi nơi, mọi lúc và quan
trọng hơn cả là kết nối đến những nội dung cụ thể theo nhu cầu của mỗi
người.


Trong thế giới đang thay đổi


Trong lúc các telco đang dậm chân tại chỗ thì các đối thủ đến từ Công nghệ thông tin và Internet đã thay đổi cả thế giới.


Yahoo/MSN/AOL tổng hợp lại cung cấp dịch vụ chat trực tuyến (tương tự với SMS) cho gần 500 triệu tài khoản trên thế giới.


Skype
dẫn đầu với dịch vụ điện thoại internet có 250 triệu tài khoản được
kích hoạt, và trở thành nhà cung cấp cuộc gọi quốc tế mặc định của hàng
trăm ngàn doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Điện
thoại truyền hình vốn là mơ ước từ lâu của các telco đã được hiện thực
hóa trên Skype hoàn toàn miễn phí, với đầu tư ban đầu chỉ là một chiếc
webcam với giá chưa tới 10 USD.


Bộ
đôi Microsoft-Cisco đã có những bước tiến đáng kể vào thị trường truyền
thông doanh nghiệp, với các giải pháp truyền thông tích hợp: thoại,
video, hội nghị, văn bản, tài liệu mang lại giá trị vượt trội so với
thoại và SMS thông thường.


Cùng lúc đó, Google – công ty dẫn đầu internet, với tổng giá trị thị trường hơn 200 tỷ USD, đang
chuẩn bị những bước tiến quyết liệt vào thị trường viễn thông với việc
bỏ hơn 4,6 tỷ USD để tham gia đấu thầu băng thông 700Mhz tại Mỹ, cũng
như công bố nền tảng Androis cho điện thoại di động.

Ở Mỹ, việc
các telco độc quyền khai thác mạng điện thoại di động, hạn chế các ứng
dụng theo từng mạng lưới và nhà khai thác đã khiến cho tốc độ phát
triển Internet và băng rộng ở nước này bị tụt hậu so với thế giới. Ở
châu Âu và châu Á, người dùng có thể sử dụng thiết bị không phụ thuộc
vào nhà khai thác, tuy nhiên khách hàng vẫn bị hạn chế về ứng dụng.

Độc quyền đôi và đường ống thứ 3

Internet
phát triển, các Telcos không có lợi nhiều, thậm chí các dịch vụ trên
nền IP như VOIP, Skype, Messenger sẽ là đối thủ trực tiếp làm sụt giảm
doanh thu SMS và cuộc gọi (thoại). Đây sẽ là điều không tránh khỏi,
nhưng nó đến càng chậm càng tốt cho các Telcos. Đó chính là nguyên nhân
vì sao họ không vội vàng chút nào trong việc đầu tư phát triển và ứng
dụng công nghệ này.

Hiện nay ở Mỹ, số thuê bao di động và cáp
của các công ty điện thoại (hai đường ống) kiểm soát 96% thị trường
băng rộng. Sự độc quyền đôi này đang có xu thế bị Google và các đại gia
khác như Yahoo, eBay, Intel, nhà cung cấp dịch vụ Skype và truyền hình
qua vệ tinh Echostar, DirectTV phá vỡ bằng cách gắng tạo ra một đường
ống mới của họ - đường ống thứ ba (third pipe).


Đây
cũng là mục tiêu của Chủ tịch Úy ban Truyền thông liên bang Mỹ (FCC –
là một cơ quan chính phủ độc lập báo cáo trực tiếp cho Thượng nghị viện
Mỹ, chịu trách nhiệm về điều phối viễn thông liên bang và quốc tế trong
lĩnh vực: sóng vô tuyến, tivi, truyền hình cáp, điện thoại cáp và vệ
tinh .


Ông
Kevin Martin và các Ủy viên Ủy ban FCC hy vọng rằng cuộc đấu giá băng
tần 700 MHz vào tháng Giêng 2008 sẽ thu hút những gương mặt mới, những
công ty sẽ tạo nên “ đường ống thứ ba” cung cấp Internet tốc độ cao.


Chủ
tịch FCC Martin coi việc phát triển đường ống thứ 3 sử dụng công nghệ
băng rộng với giá thành hợp lý là một trong số các đối tượng ưu tiên
hàng đầu của ông và gọi cuộc đấu giá này là “ cơ hội quan trọng duy
nhất để đạt được mục tiêu đó”.


Viễn cảnh

Nhiều
người cho rằng, người chiến thắng trong cuộc đấu giá sẽ quyết định
hướng đi và cạnh tranh của thông tin di động ở Mỹ trong những năm tới.


Nếu
các telcos thắng thầu băng tần này, để bảo vệ doanh thu cuộc gọi và SMS
họ sẽ không mấy nhiệt tình trong việc phát triển dịch vụ truyền dữ liệu
thuần túy, thay vào đó họ sẽ tiếp tục dè dặt phát triển các dịch vụ gia tăng, cơ hội đột phá cho Internet hầu như không có.


Nếu
Google hay liên minh của Google với các công ty PC và Internet thắng,
sự thay đổi có thể sẽ rất lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực Internet di
động. Mô hình kinh doanh của Google cho phép họ
thu lợi từ dịch vụ gia tăng chứ không trực tiếp từ việc kinh doanh
đường truyền, vì vậy họ sẽ muốn đường truyền càng rẻ và nhiều người sử
dụng càng tốt.


Có chuyên gia cho rằng Google sẽ xây dựng hạ tầng và bán lại đường truyền với giá rẻ nhất cho các ISP nhằm tạo điều kiện cho Internet rộng tối đa.


Khác với các telcos sẽ trở thành “dumb pipe” – đường ống vô tri, đường ống mà Google tạo ra sẽ là một
đường ống thông minh (smart pipe) với các dịch vụ giá trị gia tăng đa
dạng, rộng khắp của các nhà cung cấp dịch vụ và nội dung Internet.


Nguyên Anh

Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2007

Top 10 phần mềm được download nhiều nhất trong 10 năm nay

1. ICQ:

Đây là chương trình chát trực tuyến đầu tiên ra đời vào năm 1997. Tuy bây giờ ICQ đã bị qua mặt bởi Yahoo Messenger ở Châu Á, MSN ở Châu Âu và AOL Messenger ở Châu Mỹ nhưng ít ai, nhất là thế hệ 9x, biết ICQ đã từng thống trị cả thế giới trong một khoảng thời gian khá dài.

2. Winamp:

Có lẽ bỏ thời gian để giải thích về chương trình này sẽ bị cho là lẩm cẩm. Winamp đã quá phổ biến, song hành cùng với sự phát triển của chuẩn nén nhạc mp3.

3. Napster:

Thêm một “khủng long” nữa đối với thế hệ 9x. Napster, viết bởi Shawn Fanning, sinh viên trường đại học Northwestern của Mỹ, là chương trình phát tán nhạc đầu tiên trên thế giới. Nó giúp người truy cập mạng liên kết máy tính với nhau để chia sẻ tập tin. Nếu không có Napster, chuẩn
mp3 có thể đã tuyệt vong. Napster cũng là phần mềm đầu tiên bị kiện bởi Hiệp hội sản xuất nhạc của Mỹ, bị đóng cửa, và hồi sinh vài năm sau đó, thúc đẩy sự ra đời của một loạt những chương trình chia sẻ tập tin P2P hiện đại, như Emule, Edonkey, Bittorrent, DC++ và Kazaa.

4. Firefox:

Ngược lại với những chương trình mang tính chất “khai phá” ở trên, Firefox là đàn em sinh sau đẻ muộn. Là trình duyệt ra đời khi Internet Explorer của Microsoft đã chiếm lĩnh hơn 95% thị phần vào năm 2003, Firefox, đứa con cưng của phong trào “Mã nguồn mở”, với những tính năng
ưu việt như nhẹ, an toàn, tiện ích hữu dụng, đã giảm thị phần của IE xuống còn xấp xỉ 80%.

5. Winzip:

Tiện ích nén tập tin. Ngày nay, hầu như khó có máy tính có kết nối mạng internet nào mà không có cài đặt Winzip. Với khả năng thu nhỏ tập tin mà không bỏ mất thông tin, Winzip giúp giảm thiểu thời gian truyền tải thông tin giữa máy tính với nhau.

6. ITunes:

Có lẽ còn tương đối xa lạ đối với các bạn ở Việt Nam, trừ khi những ai đang sử dụng máy nghe nhạc mp3 Ipod. ITunes là chương trình quản lý nhạc, giúp bạn sắp xếp tập tin nhạc theo thể loại, theo tên album, theo tên ca sĩ, … Hiện nay ITunes là giao diện duy nhất để chuyền nhạc giữa Ipod và máy tính.

7. Adware:

Chương trình chống quảng cáo rác. Ai xài internet thì cũng biết sự khó chịu mỗi khi gặp các chương trình quảng cáo rác popup ở các website nên sự phổ biến của Adware không có gì là khó hiểu.

8. Skype:

Skype đã chứng tỏ cho mọi người thấy nếu thông tin có thể được truyền tải qua mạng internet thì tiếng nói cũng được vậy. Một chương trình siêu việt hơn hẳn so với những chương trình khác như Yahoo Voice,…

9. Realplayer:

Sự ra đời của RealPlayer 1.0 năm 1995 cũng đánh dấu sự bắt đầu của một hình thức radio mới, radio trực tuyến. Ngày nay, dù RealPlayer không còn được sử dụng rộng rãi như trước nữa vì, nó vẫn còn chiếm một thị phần khá lớn, nhất là ở quốc gia đông dân nhất trái đất, Trung Quốc.

10. Adobe Acrobat:

Chương trình xuất bản trực tuyến. AA giúp người viết gửi đi tác phẩm mình một cách nhanh chóng qua mạng internet mà không phải lo lắng về fông chữ, lề lối bị thay đổi ỏ máy người nhận.

Thứ Sáu, 23 tháng 11, 2007

Gỡ bỏ Windows Messenger trong Windows XP Pro/Home

Microsoft không muốn cho người dung gỡ bỏ Windows Messenger nên họ không cho hiện tuỳ chọn về chương trình này trong Add/Remove Windows Components.

Để có thể gỡ bỏ chương trình này bằng Add/Remove Program, hãy làm như sau:

- Dùng Notepad mở file Sysoc.inf trong thư mục Windows/Inf.

- Xoá chữ HIDE trong dòng msmsgs=msgrocm.dll,OcEntry,msmsgs.inf,HIDE,7.

- Lưu lại file Sysoc.inf.

- Bây giờ vào Add/Remove Windows Components bạn sẽ thấy xuất hiện tuỳ chọn cho tháo gỡ hay cài đặt Windows Messenger.